PDA

View Full Version : Câu chuyện lạm phát



kul
01-12-2008, 03:19
Chỉ là gợi mở để bà con có chỗ xả:p
Hôm trước thấy không khí nóng lên v́ chuyện này. Chắc c̣n dài. Có lẽ dùng chỗ này để tán phét và phân tích chuyên môn nữa xoay quanh chủ đề lạm phát?

Lại mở đầu bằng 1 bài báo:p
http://vietnamnet.vn/kinhte/2007/08/729345/
tháng 8/07
..V́ vậy, ông Phúc khẳng định, "không có và không bao giờ có hai chữ số tăng giá CPI trong năm kế hoạch này. Chúng ta đủ khả năng làm điều đó"...
...Thậm chí, ông Tiến c̣n cho rằng, "nếu ai nói lạm phát lên đến hai con số, tôi không tin. Tôi dám cá cược về điều này. Có thể ai đó nói tôi chủ quan nhưng tôi có niềm tin vào các giải pháp đang thực hiện"....:p

Rút cục tăng 12,6%. Và giải pháp của chúng ta là ..quay sang tính lạm phát kiểu khác để giảm c̣n hơn 8%:p

Giờ mời các bác phân tích nguyên nhân, tác động, giải pháp...??:)

kul
01-12-2008, 03:19
đây nữa
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=236332&ChannelID=11
..ng Nguyễn Đồng Tiến, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có một phần kết luận rất Las Vegas và Macau: “... tôi sẵn sàng đánh cược với ai cho rằng lạm phát năm nay phải là hai con số. Nếu quả thực lạm phát tăng lên hai con số th́ Chính phủ và các bộ, ngành sẽ phải kiểm điểm trước Quốc hội v́ không đạt mục tiêu đă đặt ra”...

Visitor
01-13-2008, 05:58
Chứng khoán và chỉ số giá: Năm nay sẽ sáng hơn

CẬP NHẬT: 11/01/2008 10:58:16 (GMT+7)

Trong năm 2008, dự báo triển vọng thị trường chứng khoán lẫn CPI đều tốt hơn năm 2007.

Bài viết của TS. Nguyễn Minh Phong.

Quan hệ giữa chỉ số giá (CPI) và thị trường chứng khoán là mối quan hệ phức tạp, hai chiều, vừa có tính trực tiếp, vừa có tính gián tiếp.

Trong năm 2008, dự báo triển vọng thị trường chứng khoán lẫn CPI đều tốt hơn năm 2007.

Tác động qua lại và một số khác biệt

Thông thường, giả định các nhân tố khác liên quan đến thị trường chứng khoán không đổi, nếu CPI ổn định ở mức 5% là điều kiện lư tưởng để thị trường chứng khoán hoạt động b́nh thường, c̣n khi CPI tăng cao hơn sẽ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán qua bốn cơ chế:

1. CPI tăng sẽ trực tiếp làm tăng khó khăn cho các doanh nghiệp gắn với việc phải tăng lăi vay tín dụng, tăng lương và các chi phí đầu vào khác. Điều này làm giảm lợi nhuận kinh doanh và lợi tức cổ phiếu, các báo cáo tài chính kém sáng sủa và chứng khoán của các doanh nghiệp cũng trở nên kém hấp dẫn hơn...

2. CPI tăng sẽ làm tăng áp lực buộc Nhà nước phải thực hiện chính sách tín dụng thắt chặt, như giảm hạn mức tín dụng, tăng dự trữ bắt buộc, tăng lăi suất cơ bản và lăi chiết khấu ngân hàng, các điều kiện tín dụng khác cũng ngặt nghèo hơn, khiến các nhà đầu tư chứng khoán tiếp cận nguồn tín dụng khó khăn và đắt đỏ hơn, v́ vậy làm giảm đầu tư vào thị trường chứng khoán...

3. CPI tăng sẽ kéo theo việc các ngân hàng tăng lăi suất huy động vốn, thúc đẩy việc tăng tiền gửi tiết kiệm hoặc mua vàng để bảo toàn tiền vốn của nhà đầu tư, điều này cũng làm thu hẹp ḍng vốn đầu tư trên thị trường chứng khoán...

4. CPI tăng có thể c̣n gây hai tác dụng trái chiều khác là: tăng bán ra các chứng khoán “xấu” để rút vốn khỏi thị trường chứng khoán và tăng mua vào những chứng khoán “tốt” để tránh lạm phát.

Xu hướng bán tháo chứng khoán thường xảy ra khi trên thị trường chứng khoán có nhiều chứng khoán chất lượng thấp và điều này làm giảm sút ḷng tin của các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư không chuyên nghiệp, vốn mỏng...

Lạm phát của Việt Nam 2007 đă ở mức kỷ lục 12,63% và ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam theo cả bốn cơ chế tác động nêu trên, nghĩa là về cơ bản sẽ làm giảm sự sôi động mua - bán trên thị trường này.

Tuy nhiên, có hai điểm đáng chú ư riêng có của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay khiến các cơ chế tác động nêu trên không hoàn toàn đầy đủ và đúng về mặt logic.

Một mặt, dường như các nhà đầu tư không chịu tác động nhiều lắm của các báo cáo tài chính chính thức của các doanh nghiệp và tổ chức niêm yết hoặc chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Đây là hiện tượng không b́nh thường, mà nguyên nhân có thể từ hai phía, hoặc do chất lượng báo cáo tài chính và uy tín thực tế của doanh nghiệp chưa cao; tâm lư đầu tư ngắn hạn hoặc theo đám đông c̣n đậm; hoặc do lăi suất ngân hàng đang thực âm và lượng tiền trong dân c̣n lớn, khiến nhu cầu đầu tư chứng khoán vẫn khá nóng nếu xuất hiện các cơ hội đầu tư hấp dẫn, nhất là trước tin đồn về các đợt IPO sắp tới của nhiều doanh nghiệp lớn.

Hơn nữa, ở Việt Nam lạm phát dường như đă ở đỉnh cao, trong khi thị trường chứng khoán lại đang ở đáy cơn sốt lạnh và đang trên đà hồi phục, dù chưa vững chắc.

Triển vọng trong năm 2008

Nói cách khác, trong giả định CPI không trở thành lạm phát phi mă hay siêu lạm phát kéo dài (tức từ trên 15% trở lên), th́ thị trường chứng khoán vẫn chịu sự tương tác đồng thời và khá cân bằng bởi cả hai luồng sức ép nhiều chiều trên.V́ vậy, thị trường chứng khoán không hoàn toàn đóng băng, hay đổ vỡ, nhưng cũng khó sốt cao hoặc bán tháo như đă từng có vừa qua.

Tuy nhiên, nếu Ngân hàng Nhà nước tăng cường sử dụng các công cụ nghiệp vụ để hút tiền về, th́ thị trường chứng khoán có bị tác động nhiều không?

Như trên đă phân tích, nếu thị trường tín dụng bị thắt chặt th́ chắc chắn sẽ gây sức ép kiềm chế chung sự sôi động thị trường chứng khoán, nhất là đối với các nhà đầu tư dùng vốn vay ngân hàng để đầu tư chứng khoán. Trên thực tế, mức tác động của việc Ngân hàng Nhà nước hút tiền về ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán c̣n tùy thuộc vào các công cụ nghiệp vụ mà Ngân hàng Nhà nước sẽ sử dụng.

Nếu Ngân hàng Nhà nước tích cực dùng nghiệp vụ thị trường mở, nhất là tăng lăi suất cơ bản và lăi suất chiết khấu, tăng mức dự trữ bắt buộc, giảm hạn mức tín dụng ngân hàng... th́ sẽ làm giảm lượng tiền trong lưu thông và giảm ḍng đầu tư chứng khoán. Khi đó thị trường chứng khoán sẽ bị kiềm tỏa, lạnh hơn.

C̣n nếu việc hút tiền của Ngân hàng Nhà nước chỉ dừng lại ở việc tăng phát hành các chứng khoán ngân hàng và trái phiếu chính phủ khác th́ không gây ảnh hưởng kiềm tỏa, mà thậm chí c̣n tạo xung lực mới làm nóng thị trường chứng khoán hơn (v́ cho đến nay giới đầu tư vẫn coi các chứng khoán do Nhà nước phát hành là hàng tốt, lăi suất hấp dẫn, an toàn và có tính thanh khoản cao...).

Ngoài ra, nếu loại trừ các nhân tố từ bên ngoài như xu hướng tăng lạm phát, giảm tốc độ tăng trưởng GDP và một số bất ổn về kinh tế xă hội ở nhiều nước trong khu vực... th́ triển vọng thị trường chứng khoán và CPI Việt Nam 2008 về cơ bản sẽ tốt hơn năm 2007 v́ các lư do chủ yếu sau đây:

- Do mặt bằng giá cả trong nước và giá chứng khoán mới đă được h́nh thành, dần đi vào ổn định sau một thời gian điều chỉnh.

- Động lực và cơ hội phát triển kinh tế của Việt Nam, nhất là nhu cầu và nguồn vốn đầu tư phát triển c̣n dồi dào cả vốn trong nước và vốn nước ngoài, sẽ tạo thuận lợi chung cả về nhận thức, tâm lư và thực tiễn hành động cho các bên có liên quan. Năm 2008 và thời gian tới sẽ có nhiều đợt IPO mới hấp dẫn giới đầu tư và giúp phát triển thị trường chứng khoán.

- Kinh nghiệm quản lư và cơ chế thị trường của Việt Nam sẽ tốt hơn nhờ quyết tâm của cơ quan quản lư và yêu cầu của thị trường. Cạnh tranh thị trường sẽ đầy đủ và lành mạnh hơn.


Theo TBKTSG

gunandrose
01-14-2008, 09:00
Ngày 15-01-2008, 10:58
Kiềm chế lạm phát 2008 - phải có giải pháp từ bây giờ!
Từ đà lạm phát trong năm 2007 và những yếu tố tác động trong thời gian tới, các chuyên gia đều dự đoán, nếu không có những giải pháp mạnh ngay từ bây giờ th́ lạm phát 2008 nếu không cao như năm ngoái (12,63%) th́ cũng có thể vượt qua tốc độ tăng trưởng GDP (mục tiêu tăng 8,5-9%). Vậy những yếu tố đó là ǵ và giải pháp cần thực thi ngay từ bây giờ là như thế nào?



Những yếu tố tác động đến lạm phát năm 2008 không hề suy giảm, thậm chí c̣n cao hơn cả năm 2007.



Trước hết là mặt bằng giá thế giới tính bằng USD vẫn không có dấu hiệu sụt giảm, thậm chí c̣n tăng lên, một mặt do bản thân giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng, mặt khác do USD sẽ tiếp tục giảm, làm cho giá cả tính bằng USD sẽ tăng. USD giảm giá do nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố nội tại của nước Mỹ (kinh tế Mỹ suy thoái, thị trường tài chính, thị trường nhà cửa tiếp tục bất ổn...) buộc Cục Dự trữ liên bang Mỹ sau 3 lần giảm lăi suất cơ bản từ 5,25% xuống 4,25% vào cuối năm 2007 sẽ c̣n phải tiếp tục cắt giảm lăi suất nữa để ứng phó. T́nh h́nh đó làm cho chi phí đầu vào (đối với sản xuất) và giá hàng tiêu dùng tăng.



Một yếu tố rất quan trọng là Chính phủ sẽ điều hành giá cả theo cơ chế thị trường. Theo đó, nhiều mặt hàng do Nhà nước định giá được kiềm chế trong mấy năm trước, nay sẽ tăng lên tạo thành mặt bằng giá mới, do những mặt hàng này bản thân đă chiếm tỷ trọng không nhỏ, lại c̣n tác động dây chuyền đến hầu hết giá của những mặt hàng khác. Khi mặt bằng giá lên sẽ kéo theo giá của toàn thị trường; đó là chưa kể t́nh h́nh "té nước, tát nước theo giá" Nhà nước thả nổi.



Một yếu tố khác rất quan trọng là lượng ngoại tệ tiếp tục đổ vào Việt Nam từ tất cả các nguồn, các kênh mà năm ngoái đă đạt kỷ lục về đăng kư, cam kết năm nay sẽ thực hiện cũng như việc thực hiện lượng vốn đăng kư, cam kết đang trong xu hướng tăng lên trong năm nay. Khi lượng ngoại tệ vào nước ta tăng, với chủ trương giữ giá tiền đồng để khỏi ảnh hưởng đến xuất khẩu, nhập khẩu, nhập siêu... sẽ lại phải đưa tiền đồng ra mua ngoại tệ vào như thế sẽ tạo sức ép tăng lạm phát.



Ngoài ra, khi tăng trưởng kinh tế cao lên, vốn đầu tư sẽ đưa ra nhiều hơn (tỷ lệ vốn đầu tư năm nay so với GDP dự kiến đưa lên 42%, cao hơn tỷ lệ 40,4% của năm ngoái), trong đó lượng vốn đầu tư vào hạ tầng cơ sở tăng cao hơn nhưng không tạo ngay ra sản phẩm để trung ḥa với lượng vốn đưa ra. Đó là chưa kể lượng tiền đưa ra trong các năm trước quá lớn hiện c̣n nằm ở lưu thông. Hăy xem các con số sau đây để biết sức ép đối với lạm phát trong năm qua và tới đây sẽ như thế nào? Theo ông Nguyễn Đại Lai, Phó vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển Ngân hàng Nhà nước, tốc độ tăng cung tiền M2 (gồm tổng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng) của nước ta năm 2005 tăng 23,34%, năm 2006 tăng 33,59%, năm 2007 ước tăng 35% (tính chung 3 năm tăng tới 122,44%), cao gấp gần 4,5 lần so với tốc độ tăng GDP 27,25% (năm 2005 tăng 8,44%, năm 2006 tăng 8,17%, năm 2007 tăng 8,48%) trong thời gian tương ứng, vượt rất xa so với mức từ 2,5 lần trở xuống của các nước trong khu vực. Khi mức cung tiền lớn gấp 4,5 lần so với mức tăng GDP th́ lạm phát cao là đương nhiên, không những trong kỳ mà c̣n tới cả các kỳ sau.



Những giải pháp chống lạm phát trong năm trước đă được đưa ra, nhưng hoặc là quá chậm (tiền đưa ra dồn dập mua từ đầu năm, nhưng những giải pháp tăng dự trữ bắt buộc, khống chế cho vay đầu tư chứng khoán măi đến tháng 6 mới đưa ra), hoặc là chưa đủ liều lượng, thậm chí có biện pháp chưa trúng... Rút kinh nghiệm năm trước, năm nay cần thực hiện sớm hơn, đủ liều lượng hơn, trúng hơn và cần có giải pháp mới.



Về dự trữ bắt buộc, tỷ lệ hiện nay là 10%, nhưng vẫn c̣n thấp hơn tỷ lệ của Trung Quốc. Ngân hàng thương mại cũng kêu ca về tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao đă làm cho vốn khả dụng và lợi nhuận bị giảm, nhưng với tốc độ tăng M2 cao như trên và ngân hàng nào cũng có lăi lớn, tăng cao, tiền lương và thu nhập vượt xa ngành đứng thứ hai (đó mới là so lao động trong khu vực nhà nước, nếu tính cả ngân hàng cổ phần th́ c̣n chênh lệch lớn hơn nữa).



Đến 31.12.2007, dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán là 13.149 tỉ đồng, chiếm 1,49% tổng dư nợ của 43 tổ chức tín dụng cho vay đầu tư chứng khoán (ước tính bằng 1,37% tổng dư nợ toàn hệ thống tổ chức tín dụng); hiện chỉ c̣n 2 công ty tài chính có dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán vượt 3%. Việc giảm cho vay đầu tư chứng khoán tuy c̣n có nhiều ư kiến khác nhau, nhưng đó là chủ trương đúng đắn và việc thực hiện như thế là nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, cần có sự điều chỉnh tỷ lệ cho phù hợp với các loại ngân hàng có quy mô tín dụng khác nhau; các ngân hàng thương mại phải có cơ chế tự giám sát để bảo toàn cho ḿnh và cho toàn hệ thống.



Để ngăn chặn cơn sốt bất động sản lần thứ ba đang có dấu hiệu xuất hiện và rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp bất động sản ở Mỹ đang gây hậu quả hơn mức người ta tưởng, ngoài các chính sách về tài chính, như khẩn trương ban hành và cho thực hiện ngay việc đánh thuế lũy tiến đối với những người vượt định mức nhà ở, đất ở để giảm đầu cơ nâng giá, cần áp dụng chính sách khống chế tỷ lệ cho vay đầu tư bất động sản, kiểu như chứng khoán, nhưng rút kinh nghiệm điều chỉnh cho phù hợp. Hiện nay, giá bất động sản không tính vào "rổ" để tính chỉ số giá tiêu dùng, nhưng sự nóng lạnh của thị trường này lại tác động lớn đến chỉ số giá tiêu dùng, bởi việc đưa vào hay rút ra một lượng tiền khổng lồ vào thị trường này cũng tác động đến giá cả trên thị trường hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng.



Giải pháp mới là phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước, không chỉ là trái phiếu ngoại tệ của Chính phủ, mà c̣n cho phép các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp có uy tín, có nhu cầu ngoại tệ chính đáng được phép phát hành để huy động ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế và cả lượng ngoại tệ mà các ngân hàng thương mại đang được coi là "thừa". Đây là giải pháp có tác dụng kép: vừa hút được USD về, vừa tránh đưa tiền đồng ra lưu thông tạo sức ép lạm phát, vừa ổn định được tỷ giá. Trung Quốc cũng đă áp dụng giải pháp này và đă đạt kết quả tích cực: vừa tăng mạnh dự trữ (hiện đă lên đến 1.530 tỉ USD, lớn nhất thế giới, vượt xa nước đứng thứ hai là Nhật Bản), vừa khống chế tốc độ tăng giá. Vấn đề đặt ra là cần có mức lăi suất trái phiếu phải đủ sức hấp dẫn và sử dụng có hiệu quả số USD huy động được từ trái phiếu.

Nền kinh tế mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ và văn minh; tăng trưởng kinh tế phải gắn với phát triển xă hội, với con người. Lạm phát trước đây làm cho mọi người đều thiệt hại v́ mọi người cùng nghèo; lạm phát bây giờ sẽ làm cho người nghèo khổ hơn.

http://www.tinnhanhchungkhoan.vn/tintuc.php?nid=8808